top of page

Tổng quan về Chương trình học Marketing (P1) - Học Marketing tại trường Đại học

Chương trình học Marketing tại Đại học là khung đào tạo chính quy kéo dài từ 3,5 - 4,5 năm, nhằm trang bị cho sinh viên nền tảng tư duy Marketing, kiến thức kinh tế - kinh doanh, kỹ năng phân tích thị trường và khả năng triển khai hoạt động Marketing trong thực tế doanh nghiệp.


Bài viết được chia thành hai phần. Phần 1 tập trung tổng quan về chương trình đào tạo Marketing chính quy tại các trường Đại học ở Việt Nam, phù hợp với học sinh và sinh viên. Phần 2 giới thiệu các chương trình đào tạo ngắn hạn, phù hợp với giai đoạn thực tập, người mới vào nghề hoặc người trái ngành muốn trang bị nền tảng Marketing trong thời gian ngắn. Mục tiêu của bài là giúp người đọc có cơ sở tham chiếu để lựa chọn hình thức học phù hợp với điều kiện, cơ hội và nhu cầu cá nhân.



CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH HỌC MARKETING TẠI ĐẠI HỌC


Cấu trúc chương trình đào tạo Marketing ở các trường đại học được xây dựng theo một cấu trúc đào tạo tương đối thống nhất giữa các trường. Trục kiến thức cốt lõi sẽ xoay quanh Kiến thức Đại cương được đào tạo cho sinh viên tất cả các trường, Kiến thức về Kinh tế và Kinh doanh cho sinh viên học tất cả các trường kinh tế, Kiến thức về Marketing Cơ sở Marketing Chuyên ngành trước khi đến với những học kỳ Thực tậpĐồ án tốt nghiệp.


Từ cấu trúc đào tạo cốt lõi này, mỗi trường sẽ có những phát triển riêng trong việc lựa chọn giáo trình, thiết kế bài giảng và xây dựng thêm các chương trình thực hành phù hợp với năng lực và đặc điểm của sinh viên.


Sự khác biệt về chất lượng đào tạo, trong nhiều trường hợp, không đến từ cấu trúc chương trình học - vốn đã được thiết kế và áp dụng qua nhiều thế hệ - mà đến từ các yếu tố như chất lượng giảng viên, môi trường học tập, cơ hội thực hành, tốc độ cập nhật kiến thức với thị trường và mức độ vận động của bối cảnh kinh tế - xã hội. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến cách người học tiếp cận kiến thức và hình thành năng lực làm nghề.


Vì vậy, dù học tại trường nào, nếu có thể, người học nên sử dụng cấu trúc chương trình đào tạo này như một nền tảng tư duy chính. Việc học tốt hay làm tốt về sau phụ thuộc nhiều vào lựa chọn cá nhân: nếu có cơ hội tiếp cận môi trường đào tạo tiên tiến thì đó là lợi thế; nếu không, người học vẫn có thể tiếp tục bù đắp bằng nỗ lực tự thân, thông qua các cơ hội thực tập và các chương trình học bên ngoài.


Đi đường vòng có thể mất thêm thời gian và công sức, nhưng vẫn tốt hơn là không biết mình nên đi theo hướng nào, hoặc không dám bước ra khỏi vùng an toàn.


Có thể hiểu rằng, cấu trúc chương trình học Marketing tạo ra một nền tảng tư duy chung, còn chất lượng đào tạo phụ thuộc lớn vào môi trường và cách người học tận dụng các cơ hội học tập.


Tại bài viết này, về sau là toàn bộ cấu trúc của Mục "Ngành Marketing học gì", sẽ lần lượt chia sẻ về các chương trình & học phần nên học dành cho Marketers vững nghề dựa. Mỗi bài viết sẽ là kiến thức chung về một môn học hay chương trình đào tạo nào đó dưới dạng tự nghiệm từ người viết qua quá trình sử dụng trong công việc thực tế.


Bài viết dựa vào chương trình đào tạo ngành Marketing của một số trường Đại học tiêu biểu làm cơ sở tham chiếu, có sự đối chiếu với chương trình Thạc sĩ người viết đã theo học tại chương trình liên kết của IS (VNU) & Nantes University. Bạn đọc có thể tự mình tìm đọc thêm để hiểu trước khi chọn ngành theo học. Người viết để link tham khảo bên dưới:


Năm khối kiến thức trong chương trình học Marketing tại Đại học: đại cương, kinh tế học, quản trị kinh doanh, marketing cơ sở và marketing chuyên ngành

KIẾN THỨC ĐẠI CƯƠNG CHO MỌI SINH VIÊN

Khối kiến thức Đại cương trong chương trình học Marketing đóng vai trò hình thành nền tảng tư duy xã hội, phương pháp học tập và nhận thức chung cho sinh viên ở bậc Đại học. Những học phần đại cương phổ biến thường nhàm chán, khó hiểu, khó học với những kiến thức không thân thuộc với chương trình từng học ở cấp phổ thông.

Học kỳ I bắt đầu với những môn học như Triết học, Lịch sử, Ngoại ngữ, Quốc phòng, Thể chất, Pháp luật... Để dễ hiểu, có thể phân ra làm các nhóm học phần Tâm - Thân - Trí như sau:

a) ĐÀO TẠO TƯ TƯỞNG - PHẦN "TÂM"

Là nhóm học phần để sinh viên vững tư tưởng chính trị hiểu biết về thể chế xã hội của quốc gia đang sinh sống. Gồm các nhóm môn học:

  • Triết học Mác-Lênin

  • Pháp Luật Đại Cương

  • Chủ nghĩa xã hội khoa học

  • Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

  • Tư tưởng Hồ Chí Minh


b) PHÁT TRIỂN NỘI LỰC - PHẦN "THÂN"

Là nhóm các học phần phát triển kĩ năng mềm hoặc phục vụ cho năng lực tự phát triển suốt đời. Gồm các môn học:

  • Ngoại ngữ & Giao tiếp

  • Công nghệ & Tin học Văn phòng

  • Giáo dục Thể chất

  • Giáo dục Quốc phòng


c) RÈN LUYỆN ĐẦU ÓC - PHẦN "TRÍ"

Là các môn yêu học yêu cầu tiếp tục phát triển tư duy logic qua các môn toán học, hạn chế việc "cắt kiến thức" ngay sau khi kết thúc kỳ thi đại học, đồng thời xây dựng nền tảng khoa học cho những sinh viên sẽ theo đuổi nghiên cứu khoa học. Gồm các môn học:

  • Toán ứng dụng - Toán cao cấp

  • Xác suất và thống kê

  • Thống kê trong kinh tế và kinh doanh

  • Toán kinh tế - Kinh tế lượng


Nhìn tổng thể, khối kiến thức Đại cương không nhằm đào tạo kỹ năng làm nghề ngay, mà giúp người học xây dựng nền tảng tư duy để tiếp cận các môn chuyên ngành Marketing hiệu quả hơn.

Điểm thú vị khi nhìn vào chương trình đào tạo của RMIT Việt Nam & RMIT Úc đều không thấy khối Kiến thức Đại cương & tổng quát về Kinh tế học mà ngay từ học kỳ đầu, đi thẳng vào khối kiến thức từ Quản trị Kinh doanh trở đi. Không thể vì RMIT là chương trình quốc tế mà cho rằng cách cấu trúc học đó là tốt nhất. Rất khó để có một công thức chung trong thiết kế chương trình học, chỉ có thể lí giải điều gì dẫn tới sự khác biệt để bạn học lựa chọn chương trình "phù hợp" với bản thân.


Đọc thêm: Vì sao chương trình học Marketing tại Đại học Vieent Nam khác biệt với cấu trúc chương trình du học?

Lí do đầu tiên đến từ việc vì sao cần được đào tạo tư tưởng phải nói từ bối cảnh xã hội khi ta đang sống dưới lá cờ Đảng, dưới tư tưởng của xã hội chủ nghĩa.


Sinh viên, đặc biệt là sinh viên những năm đầu, là đối tượng dễ bị cách mạng màu tiếp cận. Học phần đào tạo tư tưởng này, dưới góc nhìn của nhóm chống đối, là cách "tẩy não" thế hệ trẻ từ những chương trình học trên giảng đường. Nhưng dưới góc nhìn của người trưởng thành, tự chủ tư duy, thì học phần này cung cấp kiến thức nền để vững tư tưởng, để hiểu bản chất, tiếp cận gốc rễ về các thể chế xã hội khác nhau, để tự tư duy - tự phản biện trong quá trình tiếp cận với nhiều nền văn hóa & nguồn tư tưởng đa dạng từ quốc tế.


Thay vì để bản thân tự diễn biến thì kiến thức là nền tảng lí luận để suy nghĩ và có cái nhìn sâu sắc. Tất nhiên, đa phần sinh viên (hoặc cá nhân người viết) thấy buồn ngủ và chữ nghĩa thất thoát phần lớn trong quá trình học các môn tư tưởng. Nhưng đến một giai đoạn phát triển, việc biết rằng có sự tồn tại của những loại kiến thức như thế về thể chế xã hội, có thể hướng mình tự tìm hiểu khi cần, khiến tư duy của mình thông suốt hơn và vững vàng trong quan điểm chính trị - điều mà ở độ tuổi nào đó, loại công việc nào đó, bắt buộc phải trải qua.


Lí do thứ hai cho việc học các môn rèn luyện nội lực như Ngoại ngữ, Thể chất và một số nhóm kĩ năng mềm đến từ bối cảnh xã hội của một đất nước đang phát triển, đang hội nhập, đang có lợi thế lao động giá cạnh tranh khi ra thị t rường quốc tế.


Thanh niên Việt vẫn cần đảm bảo vốn ngoại ngữ, học cách giao tiếp, xa hơn là ngoại giao để tham gia vào dòng chảy kinh tế toàn cầu. Các kĩ năng mềm khác cũng được trang bị như một cách chỉ hướng về những thứ sinh viên cần biết đến, cần có nhận thức để xây dựng nền tảng tự học - tự phát triển lâu dài. Ngoại ngữ & Thể chất đều không phải học trong vài học phần là thành thạo, nhưng tồn tại nhận thức về sự quan trọng của năng lực ngoại ngữ & thể thao sẽ tạo động lực trong lâu dài.


Lí do thứ ba cho các môn về toán học hay những con số, có lẽ là đặc thù dành riêng cho các trường học có xu hướng đào tạo nghiên cứu khoa học.


Bởi toán học là nền tảng của nghiên cứu khoa học, và nghiên cứu kinh tế nói chung cần sự hiểu biết về toán học, các trường thiên về nghiên cứu sẽ có yêu cầu cao hơn về môn học này. Với các chương trình học tập trung vào thực hành thực tiễn, chương trình học toán sẽ được cắt bỏ hoặc giảm tải ở dưới dạng các môn toán kinh tế, các bài học yêu cầu tính toán thực tiễn hơn là học sâu vào các lí thuyết toán học khác.


Người viết không giỏi toán nên không thể lạm bàn thêm, tuy nhiên, có thể quan sát, những người bạn về sau đi theo mảng nghiên cứu khoa học (liêm chính), phần lớn đều là người học tập rất vững những môn toán này suốt thời đi học. Những người khác, về sau muốn quay lại làm nghiên cứu khoa học (vì một số mục tiêu ít liêm chính hơn), lại có sự khó khăn nhất định trong việc sử dụng các công thức toán học.


TỔNG QUÁT VỀ KINH TẾ HỌC CHO SINH VIÊN TRƯỜNG KINH TẾ

Kinh tế học là khối kiến thức giúp sinh viên Marketing hiểu cách thị trường vận hành, từ hành vi cá nhân đến các quyết định vĩ mô của nền kinh tế.


Kinh tế học nghiên cứu về kinh tế. Hay nói rõ hơn, Kinh tế học nghiên cứu về xu hướng xã hội con người phản ứng, hành động, thay đổi như thế nào với các vấn đề quyết định sản xuất hàng hóa nào, phân phối nguồn lực sản xuất vào đâu, phản ứng tiêu dùng thế nào,... trong từng điều kiện thời đại. Marketing Lagi xuất bản Chuyên mục Kinh tế & Kinh doanh để làm rõ hơn quan điểm này. Bạn đọc có thể tìm đọc lại bài viết "Marketing trong sự vận hành của nền kinh tế" với Phần 1 - "Vì sao người làm Marketing cần hiểu Kinh tế học?"Phần 2 - "Cung, Cầu và Ảo tưởng Educate thị trường" để tự tìm kiếm câu trả lời". Về tổng quát, ta có thể khẳng định rằng;

Marketing không tồn tại độc lập, mà vận hành như một phần của nền kinh tế và hệ thống doanh nghiệp. Hiểu kinh tế học giúp người làm Marketing hiểu luật chơi thị trường trước khi nghĩ đến sáng tạo.

Các môn học phổ biến được dạy tại chương trình Đại học gồm:

  • Kinh tế vĩ mô

  • Kinh tế vi mô

  • Lịch sử các học thuyết kinh tế

  • Kinh tế chính trị


Một lần nữa, các môn học này cũng như khối Kiến thức Đại cương, không được giảng dạy tại những trường tập trung cao vào đào tạo ứng dụng như RMIT. Một phần đến từ sự khác biệt trong định hướng đào tạo của mô hình giáo dục với những trường ưu tiên ứng dụng hơn nghiên cứu.


Thách thức của việc tiếp thu những Kiến thức Kinh tế học là do kiến thức có tính trừu tượng mà những bộ óc tuổi 18, 19 khó lòng tiêu hóa. Đây lại là những môn học có vẻ thiên về phục vụ nghiên cứu hơn là sử dụng thực tế, độ hấp dẫn của môn học với những người trẻ năng động, vì thế mà giảm đi nhiều phần.


Tuy vậy, về lợi thế khi được tiếp cận những kiến thức về Kinh tế học là bồi đắp nền tảng tư duy. Sinh viên cần có nhận thức được sự tồn tại của những kiến thức này, để ở những năm ngoài 30 tuổi, cũng giống như những người làm kinh doanh "thực chiến", người học sẽ nhận ra lí do vì sao cần hiểu biết những khái niệm kinh tế cơ bản nhất như lạm phát là gì, cung - cầu là gì, thặng dư là gì,... cũng như một nền kiến thức thưởng thức cho hiểu biết bối cảnh xã hội trước mọi cơ hội đầu tư.


Kinh tế học là môn học "nghiên cứu về loài người trong đời sống thường ngày". Người ta quan sát lịch sử, hiện tại và dự đoán tương lai.


Người ta học kinh tế đôi khi chỉ để học cách quan sát thế giới đang biến động quanh mình và những quyết định vĩ mô, từ các quốc gia xa xôi, có ảnh hưởng ra sao tới đời sống trực tiếp của một con người bé nhỏ như mình. Ta hiểu vì sao chỉ số lạm phát cần được quản lí, hiểu lạm phát có hoàn toàn xấu hay không, hiểu rằng chỉ số GDP tăng trưởng có những ý nghĩa gì, nhận thức rằng bối cảnh xã hội đang đi theo chiều hướng ra sao, liệu ta có thể lựa chọn gì trong điều kiện cá nhân hạn chế để thuận theo chiều gió...


Khi ta học cách quan sát cách kinh tế vận động để quyết định cách ta tham gia vào nền kinh tế, những lựa chọn cảm tính sẽ được bổ sung bằng một vài phân tích lí trí hơn.


Ta hiểu rằng chi phí cơ hội của việc đi làm part-time, đi thực tập không lương và đi hoạt động ngoại khóa sẽ có giá trị ra sao trong từng hoàn cảnh. Ta hiểu rằng cần học cách phân bổ và tối ưu nguồn lực đương có cho một mục tiêu trong từng giai đoạn, thừa nhận rằng xuất phát điểm khác nhau mang tới nguồn tài nguyên khác nhau, vậy ta nên phân phối nguồn lực đó như nào là "thông minh". Khi đi làm thực tế, ta sẽ có góc nhìn xã hội về thị trường và sản phẩm đang làm để hiểu rằng chăm chỉ và nỗ lực không đồng nghĩa với kết quả kinh doanh tốt.


Và quan trọng, khi ta hiểu về cách dòng chảy kinh tế vận hành, ta dần dần trả lời được câu hỏi "giá trị của ta là gì khi đặt trong dòng chảy của doanh nghiệp và bối cảnh kinh tế đương đại".


Cùng với niềm vui thích khi quan sát cách xã hội xung quanh vận hành, ta được trang bị tư duy hệ thống để hiểu rằng một thất bại hay một thành công trong công việc không đến từ một quyết định hay một nỗ lực đơn lẻ của bất kì ai. Tất cả những quyết định, nỗ lực ấy đều thuận hoặc ngược dòng chảy kinh doanh và kinh tế. Ta sẽ thấy khiêm tốn hơn khi thành công, cũng sẽ không tự ti khi thất bại, vì không một cá thể nào có đầy đủ thông tin để luôn luôn nắm bắt "thiên thời - địa lợi - nhân hòa", bởi nếu có người làm được như vậy, tại sao các thiên tài kinh doanh cũng phải trải qua nhiều trái đắng trước khi đến được một cột mốc bất kỳ.


Kinh tế học, nhìn rộng ra, là nền tảng để người làm Marketing không chỉ “làm theo công cụ”, mà hiểu được logic kinh tế phía sau các quyết định Marketing.


KIẾN THỨC QUẢN TRỊ KINH DOANH TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỌC MARKETING

Khối kiến thức Quản trị Kinh doanh giúp sinh viên Marketing hiểu cách doanh nghiệp vận hành trong thực tế, từ đó gắn hoạt động Marketing với mục tiêu kinh doanh. Đây là khối kiến thức bắt buộc được giảng dạy dù là chương trình của trường công lập, tư nhân, trong nước hay quốc tế. Các môn học nền về kinh doanh sẽ được học gồm:

  • Quản trị học

  • Quản trị Kinh doanh

  • Quản trị Nhân lực

  • Tài Chính & Tiền Tệ

  • Chiến lược & Ra quyết định kinh doanh

  • Nguyên Lý Kế Toán


Nếu như các kiến thức về Kinh tế có thể được chiêm nghiệm rõ hơn ở độ tuổi khoảng 30, và các kiến thức về Chính trị - Xã hội thường cần nhiều trải nghiệm hơn để “ngộ” ra sau tuổi 35, thì kiến thức về Kinh doanh lại có thể cảm nhận được rất sớm, từ giai đoạn 22 -25 tuổi.


Với những bạn có điều kiện gia đình định hướng làm kinh doanh, hoặc sớm được tiếp xúc với môi trường kinh doanh thực tế, các kiến thức này nhanh chóng trở thành nền tảng thực hành. Ngược lại, với những bạn đi theo con đường học tập - làm việc truyền thống, phải đến khi tham gia thị trường lao động từ 5 - 7 năm, những kiến thức Kinh doanh mới thực sự được “kích hoạt” và hình thành góc nhìn rõ ràng hơn về doanh nghiệp cũng như vai trò của Marketing trong toàn bộ hệ thống vận hành.


Trong môi trường Đại học, đặc biệt là các học phần thuộc khối Quản trị Kinh doanh, kiến thức thường được tiếp cận ở mức độ khái quát, do giới hạn về thời lượng giảng dạy so với khối lượng nội dung cần truyền đạt. Ở độ tuổi 20, sinh viên khó có đủ trải nghiệm để liên hệ ngay với thực tế, nên kiến thức dễ rơi vào trạng thái “nghe - hiểu - để đó”.


Sự trừu tượng này không phải do kiến thức thiếu giá trị, mà vì người học chưa có đủ bối cảnh để gắn nó với tình huống cụ thể. Chỉ khi bước vào môi trường làm việc thực tế, va chạm với các quyết định, con số và hệ quả thật, người học mới có cơ hội quay lại những gì đã học để hiểu sâu hơn.


Có thể hiểu rằng, kiến thức Kinh doanh trong chương trình học Marketing thường chỉ thực sự “sống dậy” khi người học có môi trường để trải nghiệm và đặt nó vào bối cảnh thực tế.


“Tài chính & Tiền tệ” là một ví dụ điển hình. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, những khái niệm này dễ bị lãng quên nếu người học chưa từng đứng trước các quyết định liên quan đến ngân sách. Tuy nhiên, khi đảm nhiệm vai trò Marketing Manager, phải làm việc trực tiếp với ngân sách Marketing và phối hợp với bộ phận Tài chính, người học buộc phải quay lại những kiến thức này để trả lời các câu hỏi rất cụ thể: chi phí cho một khách hàng là bao nhiêu, hiệu quả đầu tư đo lường thế nào, và mức chi nào là chấp nhận được đối với doanh nghiệp.


KIẾN THỨC MARKETING: NỀN TẢNG & CHUYÊN NGÀNH

Khối kiến thức Marketing trong chương trình học Đại học giúp sinh viên hiểu bản chất Marketing như một quá trình tạo ra, truyền tải và duy trì giá trị cho thị trường.


NHÓM HỌC PHẦN CƠ SỞ: Kiến thức chung

Chỉ từ Marketing tới đi làm thực tế, có thể tách ra nhiều chuyên môn khác nhau - điều mà sinh viên sẽ được lựa chọn học kĩ hơn ở các học phần chuyên ngành từ Học kỳ III trở đi.


Trước đó, sinh viên bắt buộc phải trải qua các kiến thức Cơ sở của Marketing, trong đó, phần lớn kiến thức có thể tìm kiếm ở cuốn giáo trình kinh điển "Nguyên lý Marketing" của Philips Kotlers & Gary Amstrong. Chuyên mục Khái quát Marketing là gì? của Marketing Lagi được xuất bản với cùng mục tiêu. Khối kiến thức nền này là ngôn ngữ nói chuyện của Marketer ở mọi lĩnh vực, nơi mà mọi người đều có cùng cái hiểu về Marketing là gì? hay Quy trình Marketing diễn ra như nào?


Tại khối kiến thức cơ sở này, sinh viên sẽ được học:

  • Nguyên lý Marketing (Marketing Principles)

  • Quản trị Marketing

  • Tâm lý học nhập môn

  • Hành vi người tiêu dùng


Khối kiến thức Đại cương, Khối kiến thức về Kinh tế, Nền tảng Kiến thức về Kinh doanh & Kiến thức Cơ sở Marketing4 điểm khác biệt lớn nhất của người được đào tạo Marketing bài bản so với tay ngang hay trái ngành. Bắt đầu từ nhóm Học phần Chuyên ngành trở đi, khoảng cách khác biệt giảm dần, đôi khi, những học phần chuyên sâu được học tại đại học lại ít cơ hội ứng dụng hơn những người trái ngành học trực tiếp vào một vài môn cụ thể nhằm giải quyết nhu cầu rõ ràng.


Nói dễ hiểu như này. Từ học phần chuyên ngành trở đi, các môn học được giảng dạy đều sẽ được dùng tại thực tế ở một mức độ nhất định.


Bạn được học "Phát triển và ứng dụng web trong Marketing" (PTIT) thì những người trái ngành cũng dễ dàng tìm kiếm khóa học về "Phát triển Website & SEO thực chiến". Bạn được học "Sáng tạo nội dung số" (RMIT hoặc VLU) thì người đi ngang cũng tìm được rất nhiều khóa về "Copy Writing", "Content Marketing" với kiến thức được cập nhập nhanh hơn, giảng dạy bởi các Mentor vẫn đang làm nghề hàng ngày, hàng giờ.


Vậy sự khác biệt khi học kiến thức Cơ sở Marketing nằm ở đâu?

Sự khác biệt cốt lõi của kiến thức Cơ sở Marketing nằm ở việc người học hiểu được “mình đang làm Marketing cho ai và trong bối cảnh nào”, thay vì chỉ biết cách sử dụng công cụ.


Người viết lấy môn Nguyên lý Marketing làm ví dụ. Một khóa học SEO hay Content thường được giảng dạy trong 10 - 15 buổi, tương đương 2 - 2,5 tháng học. Các khóa học này có thể nhắc đến việc cần xác định thị trường mục tiêu trước khi triển khai kỹ thuật, nhưng do thời lượng giới hạn, phần lớn nội dung người học tiếp cậncông cụ và kỹ thuật, hơn là tư duy nghiên cứu.


Ngược lại, người đã nắm vững Nguyên lý Marketing sẽ luôn đặt câu hỏi: công cụ SEO này đang phục vụ phân khúc thị trường nào, hành vi tiêu dùng của khách hàng ra sao, họ trải nghiệm kênh mua sắm online như thế nào, và thương hiệu đang ở giai đoạn nào trong hành trình ra quyết định của người mua. Từ đó, họ hiểu vì sao cần SEO cho mục tiêu Marketing nào, và đâu là cách triển khai phù hợp.


Nếu thiếu nền tảng này, người học dễ rơi vào tình trạng triển khai toàn bộ kỹ thuật SEO On-page và Off-page một cách dàn trải, không tối ưu nguồn lực và cũng không biết mình đang giải quyết vấn đề gì trong bức tranh tổng thể của Marketing.


Tuy vậy, sự khác biệt của các khối kiến thức Đại cương - Kinh tế - Kinh doanh - Marketing cơ sở thường tạo ra kết quả khi bạn vượt qua giai đoạn thuần thực thi kéo dài 5 - 7 - 10 năm đầu đi làm và bắt đầu tham gia vào các vai trò quản lý hoặc ra quyết định.


Ở giai đoạn này, những kiến thức nền giúp người học không bị lạc hướng khi đứng trước các lựa chọn nghề nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để tiếp thu kiến thức chuyên sâu nhanh hơn nếu cần bổ sung hoặc chuyển hướng. Sự khác biệt này sẽ không khiến người học ở môi trường đại học tài giỏi hơn nếu không đủ kiên trì cho đến khi cần dùng những kiến thức đó, cũng không khiến người trái ngành thua kém nếu họ nhận ra cần bổ sung kiến thức gì và kịp thời bù đắp, cũng không phát huy tác dụng nên không thể chuyển "con chữ" sách vở thành hành động.


Có thể hiểu rằng, kiến thức Cơ sở Marketing không tạo ra kết quả tức thời, nhưng quyết định khả năng chuyển hóa từ “biết làm” sang “hiểu vì sao làm” trong hành trình nghề nghiệp dài hạn.


NHÓM HỌC PHẦN CHUYÊN NGÀNH: Nghiên cứu Chuyên sâu

Sự đa dạng và khác biệt giữa các trường đại học phần lớn nằm tại sự khác biệt trong định hướng đào tạo chuyên ngành của từng trường.


Có những trường sẽ có học phần thiên về Quản trị - Quản lý - Chiến lược như NEU hay UEH. Cũng sẽ có những chương trình học thiên về ứng dụng và được thiết kế phù hợp với xu hướng đương đại như trường Văn Lang, RMIT hoặc chia thời lượng cho cả học phần mang tính ứng dụng cao & học phần đào tạo tư duy quản trị như chương trình của PTIT.


Do bản thân người viết không được học tập thực tế nên rất khó để so sánh, mỗi cấu trúc chương trình đều có ưu - nhược khác biệt. Với thời hạn học có giới hạn, bản thân các trường cũng rất cân nhắc khi lựa chọn học phần nên ưu tiên dạy dựa trên triết lí giáo dục theo đuổi.


Tuy vậy, có thể tạm phân nhóm các học phần chuyên ngành có thể được lựa chọn ra làm các nhóm như sau:

a) NHÓM MÔN HỌC TRUYỀN THÔNG & QUẢNG CÁO

Gồm các học phần:

  • Truyền thông Marketing tích hợp

  • Marketing Truyền Thông Mạng Xã Hội

  • Sáng Tạo Nội Dung (Kỹ thuật số)

  • Quan hệ công chúng

  • Quảng cáo

  • Tổ chức Sự kiện


Đây là nhóm môn học được xem là "hot hit" nhất nhì của ngành Marketing bởi nhu cầu tuyển dụng cao, tính ứng dụng cao, dễ dàng sử dụng để đi làm ngay từ năm 2, năm 3, do đó việc học cũng dễ chịu hơn khi học và làm trở nên rất gần gũi. Một lí do nữa khiến những môn học này hấp dẫn là bởi nó gắn liền với những chiến dịch truyền thông viral, những chiến dịch quảng cáo mới lạ - nơi mà cảm giác tự do, sự bay bổng, những tưởng tượng với bạt ngàn ý tưởng trở thành thứ dopamin gây nghiện cho Marketers yêu thích sự sáng tạo.


b) NHÓM MÔN HỌC MARKETING SỐ & DỮ LIỆU MARKETING

Gồm các học phần:

  • Marketing Công nghệ số (Digital Marketing)

  • E-Marketing hoặc Automation Marketing

  • Phân tích dữ liệu (Data Analysis) & Trực quan hóa dữ liệu trong kinh doanh (Data Visualization)

  • Thương mại điện tử

  • Phát triển và ứng dụng website


Nhóm môn học này hiện cũng tương đối "hot hit" với sự phát triển của hành vi tiêu dùng online cùng sự phổ cập của công nghệ. Tuy sẽ khó để ứng dụng cho công việc ngay từ năm 2, nhưng muộn hơn một xíu, bắt đầu từ năm 3, năm 4, hoàn toàn có thể thực tập tại các doanh nghiệp làm thương mại điện tử, bán các sản phẩm công nghệ như phần mềm, ứng dụng điện thoại, website hoặc bất kì doanh nghiệp nào cần quản trị và triển khai marketing trên nền tảng công nghệ tương tự.


Điểm hấp dẫn của bộ môn này nằm ở tính thực tiễn nhiều hơn sự sáng tạo đối với góc nhìn kinh doanh. Doanh nghiệp nói chung hay bộ phận Marketing nói riêng, mục tiêu cần phục vụ cho kết quả tài chính. Chuyên ngành này phần nhiều gắn liền với sự phát triển của các kết quả tài chính, do vậy mang tới lộ trình phát triển dài hơi, ổn định.


c) NHÓM MÔN HỌC QUẢN TRỊ MARKETING & THƯƠNG HIỆU

Gồm các học phần:

  • Nghiên cứu thị trường

  • Quản trị Marketing 4P (Sản phẩm - Giá - Phân phối - Kích cầu)

  • Marketing dịch vụ

  • Marketing bán lẻ

  • Quản trị quan hệ khách hàng

  • Quản trị thương hiệu

  • Marketing chiến lược


Nhóm môn học này có phần "truyền thống" và tính hàn lâm cao hơn. Những học phần này có xu hướng đào tạo về lý thuyết cho tư duy quản trị - quản lí và phù hợp với lộ trình theo đuổi các cấp lãnh đạo chiến lược. Những kiến thức trên chỉ thực sự phát huy tác dụng khi làm việc tại các doanh nghiệp truyền thống hoặc khi bước vào con đường từ quản lí trở lên.


Đừng hiểu lầm "truyền thống" tức là cũ, cổ, "out trend" - "out of meta". Nếu như 2 chuyên ngành phía trên tập trung nhiều hơn vào Marketing số - Marketing hiện đại thì chuyên ngành quản trị này phục vụ cho những "nền tảng" Marketing truyền thống, lâu đời, có giá trị bền vững và giá trị kinh tế đã được chứng minh như: Marketing tại điểm bán, Marketing theo đặc thù ngành bán lẻ - ngành dịch vụ, Marketing theo mô hình doanh nghiệp B2B - B2C, Marketing đa thị trường, Xây dựng & Phát triển tài sản thương hiệu...


Tuy vậy, trên trải nghiệm cá nhân, khối kiến thức này đối với sinh viên và những Marketer đi làm dưới 5 - 7 năm không thân thiện, trừu tượng, đôi khi là xa vời hoặc cơ hội tìm việc cho người mới "ít hơn". Điều hấp dẫn của những học phần này chỉ thực sự phát huy khi bạn muốn khoác lên mình một chiếc áo lớn hơn, khi muốn chạm tới quyền ra quyết định chiến lược trong doanh nghiệp, khi những công việc thực thi không đủ thỏa mãn mong muốn phát triển.

Ngoại trừ một số chuyên ngành cụ thể như Cử nhân Digital Marketing của RMIT, khoanh vùng tập trung vào chuyên ngành marketing số, thì phần lớn các chương trình Cử nhân Marketing của bậc Đại học đều sẽ có sự kết hợp linh hoạt của cả 3 nhóm môn học trên. Đây là chiến lược đào tạo đồng đều, để trong quãng thời gian tại Đại học, mỗi thứ sinh viên được chạm một chút, được biết một ít, được thử một tí trước khi thực sự hiểu và biết bản thân nên tập trung vào chuyên ngành nào.


So với thời gian mình học đại học (khóa 2014 - 2018), chương trình đào tạo Marketing hiện nay hiện đại hơn, gần gũi hơn, vẫn dạy một số học phần quản trị, nhưng đã kết hợp những học phần có tính ứng dụng cao. Các học phần phổ biến có thể kể đến như Truyền thông Marketing tích hợp, Sáng tạo Nội dung, Quảng cáo, Quan hệ Công chúng, Digital Marketing, Thương mại Điện tử được dạy như những lựa chọn không bắt buộc cùng với các học phần trang bị kiến thức Quản trị - Chiến lược khác.


HỌC KỲ THỰC TẬP & ĐỒ ÁN/THI TỐT NGHIỆP

Thực tập & Đồ án tốt nghiệp rơi vào khoảng thời gian từ cuối năm III tới hết kỳ 2 năm IV. Cùng thời gian này, sinh viên thường được xếp học một số học phần mở rộng kiến thức. Trong đó, xu hướng đào tạo sẽ dành thời gian cho Marketing Quốc tế và Quản trị Bán hàng. Trong đó, Marketing Quốc tế được giảng dạy với mong muốn tạo nhận thức cho sinh viên về mong muốn làm việc với thị trường quốc tế và các môn học liên quan tới Bán hàng là để sinh viên hiểu về mối quan hệ có tính tương hỗ giữa Marketing & Sales.


Cần phải làm rõ quan niệm phiến diện "học đại học không thực tế" hoặc "chương trình đại học quá hàn lâm, khó ứng dụng để đi làm thực chiến". Việc lựa chọn học đại học, hay cao đẳng, hay học nghề, là quyết định của bạn (dưới sự tư vấn của gia đình, bạn bè, người thân). Chương trình học đại học vốn dĩ được thiết kế để trang bị cho người học nền tảng tư duy, khả năng nghiên cứu và phát triển nghề vững vàng trong dài hạn. Các kiến thức vĩ mô quả thực không được áp dụng ngay từ những năm đầu làm nghề, song lại là bệ đỡ tư duy cho chặng đường sự nghiệp kéo dài 10, 20, đôi khi là 30 năm sau. Có thể khai thác kiến thức tới đâu lại là năng lực của mỗi người, điều mà trường học không thể dạy, cũng không thể quản. Đồng thời, các chương trình đào tạo hiện rất đa dạng (như nói ở trên).


Tuy vậy, để có khả năng lựa chọn bất kỳ chương trình học nào mình yêu thích, phụ thuộc vào nguồn lực cá nhân (bao gồm nguồn lực tài chính và năng lực thi cử). Ngay cả khi không may mắn hay là không đủ khả năng để chọn lựa (điều hiển nhiên mọi người đều phải đối mặt), thì việc lấy kiến thức trên trường làm nền tảng để tự trải nghiệm, tự học ngoài luôn là những điều mà cá nhân có thể quyết định. Điểm cuối cùng cần phải nói, năng lực sinh viên - năng lực giảng viên - môi trường học tập và cấu trúc chương trình học là 4 yếu tố có thể cải thiện riêng biệt. Chương trình đào tạo nào cũng sẽ có ưu - nhược, song cũng có điểm tương đồng. Chọn một chương trình đào tạo "có vẻ" xuất sắc nhưng năng lực người học yếu kém và một chương trình đào tạo "có vẻ" lỗi thời nhưng khả năng tự học xuất sắc cho ra những kết quả không giống nhau.


FAQ: HỎI & ĐÁP NHANH VỀ VIỆC HỌC MARKETING TẠI ĐẠI HỌC


Ấn vào Đọc thêm để tìm kiếm câu trả lời liên quan.

Đọc thêm: Chương trình học Marketing tại Đại học gồm những gì?

Chương trình học Marketing tại Đại học thường bao gồm bốn khối kiến thức chính: Đại cương, Kinh tế học, Quản trị Kinh doanh và Marketing nền tảng - chuyên ngành. Cấu trúc kiến thức này tạo nên nền tảng tư duy và kiến thức cần thiết cho sinh viên trước khi bước vào thực hành nghề Marketing.

Đọc thêm: Học Marketing ở Đại học có đủ để đi làm không?

Chương trình học Marketing giúp người học xây dựng nền tảng tư duy và kiến thức hệ thống, nhưng để làm nghề tốt, sinh viên cần tự học, tự thực hành sử dụng các công cụ Marketing cần thêm trải nghiệm thực tế thông qua thực tập, dự án và môi trường làm việc sau khi ra trường.

Đọc thêm: Vì sao học Marketing ở Đại học thường thấy nhiều lý thuyết?

Do phần lớn sinh viên chưa có đủ trải nghiệm thực tế khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nên nhiều kiến thức Marketing được tiếp cận ở dạng khái quát. Những nội dung này thường chỉ thực sự “sáng rõ” khi người học bước vào môi trường làm việc và đối mặt với các vấn đề thực tế của doanh nghiệp.

Đọc thêm: Khi nào kiến thức Marketing học ở Đại học bắt đầu phát huy giá trị?

Với nhiều người, giá trị của kiến thức Marketing Đại học thường thể hiện rõ sau khoảng 3 - 7 năm đi làm, khi chuyển từ vai trò thực thi sang tham gia ra quyết định, quản lý hoặc hoạch định chiến lược.

Đọc thêm: Người trái ngành có nên học lại chương trình Marketing Đại học không?

Không nhất thiết. Người trái ngành có thể tiếp cận các chương trình đào tạo ngắn hạn hoặc khóa học chuyên sâu để nắm nền tảng Marketing trong thời gian ngắn, sau đó bổ sung dần kiến thức thông qua trải nghiệm thực tế.


TẠM KẾT & CÂU HỎI CHO NGƯỜI TRÁI NGÀNH

Phần 1 tập trung vào bóc tách chương trình học Marketing theo cấu trúc chương trình học có thể nói là "chuẩn như sách giáo khoa". Tuy vậy, phạm vi bài viết này mới chỉ phù hợp với nhóm các bạn học sinh - sinh viên chuẩn bị theo đuổi ngành Marketing, phần nào giúp các bạn chuẩn bị được tâm thế phù hợp trước khi đi học và có thêm thông tin cho lựa chọn môi trường học tập. Bài viết không phục vụ cho mục đích quảng bá bất kỳ trường nào, các trường được trích dẫn chỉ có ý nghĩa làm ví cho, nghiên cứu về cấu trúc đào tạo để chỉ ra điểm tương đồng trong cách học Marketing bậc Đại học.


Chỉ học Đại học là không đủ. Phần 2 sẽ tập trung vào các Khóa học chuyên sâu, các Chương trình ngắn hạn & Phương pháp học theo đuổi triết lý "life-long-learning" phục vụ cho việc học để làm, để giải quyết vấn đề và để tiếp tục phát triển. Do đó, phần 2 sẽ phù hợp hơn với những người đã đi làm, đã trải nghiệm, đang va vấp và cần biết học như nào để ứng dụng được.



Bình luận


  • Facebook
  • Twitter
  • Instagram

LIÊN LẠC

  • Facebook
  • LinkedIn

© 2025 by @talkativeanya. Powered and secured by Wix

bottom of page